Search inside yourself – Tìm kiếm bên trong bạn

“Cuốn sách này mình được một người thầy mà mình rất kính trọng gợi ý. Thầy nói rằng: đây là cuốn sách mà chính Google đã áp dụng để giúp nhân viên của họ phát triển trí tuệ cảm xúc và sự bình an nội tâm — thông qua thiền.

Ngay khi đọc phần giới thiệu, mình đã bị thu hút bởi một chi tiết thú vị: Jon Kabat-Zinn — người sáng lập chương trình Giảm stress bằng chánh niệm nổi tiếng — đã tò mò khi nhận lời mời đến Google để nói chuyện về thiền với Chade-Meng Tan, tác giả cuốn sách Search inside yourself – Tìm kiếm bên trong bạn.

Ông tự hỏi:
“Anh chàng này là ai mà lại tự gọi mình là ‘người bạn tốt luôn vui vẻ của Google’ nhỉ?”
“Anh chàng này là ai mà lại chào đón mọi nguyên thủ quốc gia, người đạt giải Nobel và cả những người nổi tiếng đến Google nhỉ?”

Jon Kabat-Zinn nhận xét rằng Tìm kiếm bên trong bạn” không chỉ là một cuốn sách, mà còn là một giáo trình, một con đường bạn có thể đi theo với những bài tập và hướng dẫn cụ thể — một phương pháp thiền giúp con người liên hệ với người khác cũng như với chính bản thân mình. Và ông cho rằng, nếu bạn tham gia một cách có hệ thống, nó sẽ giúp biến đổi và giải thoát con người một cách triệt để.

Cuốn sách dựa trên một loạt các phương pháp thiền có thể giúp bạn trau dồi sự chú ý, tình yêu thương, lòng từ bi, bình an, sự hiện hữu trọn vẹn, trí thông minh cảm xúc, cũng như nhiều khía cạnh cơ bản khác của tâm trí, trái tim và cơ thể mà bạn sẽ được tiếp cận.

Tác giả Chade-Meng Tan đã nói rõ: “Mục tiêu của tôi là đưa các lợi ích của thiền đến với nhân loại — để ai cũng có thể tiếp cận và ứng dụng nó trong đời sống hằng ngày.”

Xa hơn thế, anh cho rằng mục đích sống của mình là đem lại hòa bình thế giới thông qua lan tỏa lòng từ bi và sự bình an nội tại.

Và đúng như vậy, đây là cuốn sách giúp chúng ta thật sự tìm thấy sức mạnh bên trong mình — bằng những bài tập thiền thực tế, đơn giản nhưng đầy hiệu quả.”

Thành quả đáng giá nhất của Cuốn sách đó là đã có tác dụng rất tốt đối với những người bình thường trong môi trường doanh nghiệp của 1 xã hội hiện đại chứ không chỉ dành cho những người xuất thân từ những nền văn hóa có truyền thống về thiền. Mà ngay cả 1 người Mỹ bình thường, đang làm việc trong 1 môi trường áp lực cao, có cuộc sống bình thường với gia đình và nhiều thứ khác, họ vẫn có thể thay đổi cuộc đời.

Khi đọc xong cuốn sách, điều đọng lại nhiều nhất trong mình là hai chữ đồng cảm. Tác giả cho rằng đồng cảm không phải là một kỹ năng mềm mang tính xã giao, mà là năng lực cốt lõi của trí tuệ cảm xúc. Khi bạn đủ tỉnh để nhận ra cảm xúc đang diễn ra trong mình, bạn cũng bắt đầu nhìn thấy rõ hơn cảm xúc của người khác. Trong sách, tác giả chỉ ra rằng phần lớn xung đột trong công việc không đến từ vấn đề chuyên môn, mà đến từ cảm xúc không được nhìn nhận đúng cách. Khi con người cảm thấy được lắng nghe và tôn trọng, họ tự nhiên hợp tác tốt hơn và sẵn sàng mở lòng hơn. Chính điều đó tạo ra sự tin cậy – nền tảng của hiệu suất bền vững. Đồng cảm vì thế không làm ta yếu đi, mà giúp ta phản ứng chậm lại, sáng suốt hơn và nhân văn hơn. Và để nuôi dưỡng khả năng này, tác giả khẳng định nền tảng sâu xa vẫn là thiền và sự chú tâm vào thế giới bên trong.

Mình xin được trích câu nói trong sách gần như tóm gọn toàn bộ tinh thần của Search Inside Yourself: -“Giữa kích thích và phản ứng có một khoảng không gian. Trong khoảng không gian đó là tự do và sức mạnh của chúng ta.”

Câu nói trên cho rằng có rất nhiều căng thẳng trong cuộc sống không đến từ sự việc xảy ra, mà đến từ cách mình phản ứng lại nó. Và nếu mình có thể tạo ra một khoảng dừng nhỏ trước khi phản ứng, thì ngay khoảnh khắc đó, mình đã có thêm sự lựa chọn và quyền làm chủ cuộc đời mình.

Mình xin liệt kê những ý cốt lõi nhất mà tác giả muốn truyền tải cho độc giả. Bạn cùng lắng nghe nhé!

Mọi thứ bắt đầu từ sự chú ý.

Trong Search Inside Yourself, tác giả đặt nền móng bằng một khái niệm rất cơ bản: sự chú ý. Anh cho rằng chú ý chính là “cơ bắp” của tâm trí, và có thể rèn luyện được. Khi sự chú ý đủ vững, tâm trí trở nên bình an và sáng rõ hơn. Đây là lý do Google đưa thiền vào đào tạo nội bộ, không phải để nhân viên thư giãn, mà để họ suy nghĩ rõ ràng hơn và làm việc hiệu quả hơn.

Thiền không chỉ là ngồi yên, mà là hiện diện

Đây cũng là 1 ý khiến mình rất ấn tượng đó là cách tác giả định nghĩa lại thiền. Thiền, trong cuốn sách này, không hẳn là ngồi yên nhắm mắt trên đệm, mà là khả năng chú tâm trọn vẹn vào bất cứ việc gì mình đang làm trong giây phút đó.

Tác giả viết rằng: “Thiền là sự chú ý có chủ đích, trong hiện tại, và không phán xét.” Điều đó có nghĩa là khi bạn đang uống nước và thật sự cảm nhận vị nước, khi bạn đang đi bộ và biết mình đang đi, hay khi bạn đang lắng nghe ai đó với sự hiện diện trọn vẹn, thì ngay lúc đó, bạn đang thiền.

Cuốn sách khiến mình nhận ra rằng thiền không kéo mình ra khỏi cuộc sống bận rộn, mà ngược lại, giúp mình sống sâu hơn trong chính những khoảnh khắc rất đời thường. Và có lẽ chính cách tiếp cận gần gũi này đã khiến Search Inside Yourself trở thành một cuốn sách rất dễ bước vào, kể cả với những người chưa từng thiền bao giờ.

Sự tự nhận thức tạo ra sự tương thích trong công việc

Thêm 1 ý trong cuốn sách mình cũng thấy rất thích, đó là cách tác giả phân tích rất rõ mối liên hệ giữa thiền, sự tự nhận thức và hạnh phúc trong công việc. Tác giả nhấn mạnh rằng sự tương thích trong công việc không đến từ việc chạy theo một vị trí tốt hay một cơ hội hấp dẫn bên ngoài, mà được xây dựng dựa trên sự am hiểu sâu sắc bản thân. Khi bạn hiểu mình đủ sâu, bạn bắt đầu nhận ra đâu là giá trị cốt lõi, đâu là mục đích sống và đâu là những ưu tiên thật sự quan trọng đối với mình.

Khi mọi thứ dần trở nên rõ ràng, bạn sẽ biết điều gì khiến mình cảm thấy có ý nghĩa, điều gì khiến mình hạnh phúc khi làm việc và mình có thể đóng góp điều gì tốt nhất cho thế giới này.

Tác giả cho rằng khi đã hiểu mình, bạn sẽ biết mình muốn tạo ra một tình huống công việc như thế nào cho bản thân, thay vì để công việc cuốn mình đi. Và khi những cơ hội phù hợp xuất hiện, bạn có thể lựa chọn làm việc theo cách đem lại cho mình sự tự trị, sự tự chủ và cảm giác có mục đích. Từ đó, công việc không còn chỉ là nơi tiêu hao năng lượng, mà dần trở thành một nguồn hạnh phúc. Và nền tảng của toàn bộ quá trình này, theo tác giả, lại chính là thiền.

Trí tuệ cảm xúc quan trọng hơn ta tưởng

Sách đưa ra một dữ liệu rất đáng suy ngẫm: trong các yếu tố tạo nên người làm việc xuất sắc, năng lực cảm xúc quan trọng gấp đôi năng lực chuyên môn thuần túy. Đặc biệt trong lĩnh vực kỹ thuật, phần lớn các năng lực phân biệt người giỏi với người bình thường lại nằm ở khả năng quản lý cảm xúc, giao tiếp và tự chủ. Điều này cho thấy thành công không chỉ đến từ cái đầu thông minh, mà từ một tâm trí được rèn luyện đúng cách.

Đồng cảm và lòng từ bi là sức mạnh, không phải điểm yếu

Tác giả dành nhiều chương nói về đồng cảm và lòng từ bi như những trụ cột của trí tuệ cảm xúc. Ông giải thích rằng đồng cảm không phải là đồng ý, mà là khả năng hiểu được cảm xúc của người khác mà vẫn giữ được sự vững vàng của mình. Trong môi trường làm việc, khi con người cảm thấy được thấu hiểu, sự tin tưởng và hợp tác tự nhiên tăng lên. Lòng từ bi, theo tác giả, không làm ta yếu đi mà giúp ta đưa ra quyết định sáng suốt và nhân văn hơn.

Hạnh phúc và thành công không tách rời nhau

Thông điệp xuyên suốt cuốn sách là: hạnh phúc và thành công không phải hai con đường đối lập. Khi bạn rèn luyện tâm trí thông qua chú ý, thiền và trí tuệ cảm xúc. Bạn tạo ra những điều kiện để hạnh phúc xuất hiện. Và chính trạng thái tâm trí đó lại giúp bạn làm việc tốt hơn, lãnh đạo tốt hơn và đóng góp nhiều hơn. Thành công, vì thế, trở thành hệ quả tự nhiên của một thế giới bên trong vững vàng.

Kết luận

Cuốn sách Search Inside Yourself không dạy ta phải trở thành ai khác, mà nhắc ta quay về hiểu chính mình. Khi ta đủ chú tâm để nhận ra cảm xúc đang diễn ra bên trong, ta không còn sống trong phản ứng vội vàng, mà bắt đầu sống có ý thức hơn. Tác giả cho rằng thiền chính là con đường đơn giản và thực tế nhất để làm điều đó – không phải để trốn khỏi cuộc sống, mà để nhìn rõ mình đang nghĩ gì, đang cảm nhận gì, ngay trong từng khoảnh khắc.

Trí tuệ cảm xúc, vì thế, không nằm ở việc kiểm soát cảm xúc, mà ở khả năng nhận diện và đồng hành cùng chúng.

Mình xin được trích câu nói của Carl Jung để kết thúc bài review này:

Cho đến khi bạn khiến cái vô thức trở nên có ý thức, nó sẽ điều khiển cuộc đời bạn và bạn gọi đó là số phận.”

– Khi thế giới bên trong được soi sáng, cách ta làm việc, yêu thương và lựa chọn cũng thay đổi. Không cần gồng mình để trở nên xuất sắc, chỉ cần rèn luyện tâm trí đúng cách, bạn đã bước đi trên con đường sâu của hạnh phúc và trưởng thành — có lẽ đó chính là thành công mà Search Inside Yourself muốn mỗi người tự mình chạm tới.

Và có lẽ điều cuốn sách để lại không phải là một câu trả lời, mà là một câu hỏi:
Bạn đang sống với sự bình an nào bên trong mình?

Cuốn sách này rất nên có trong kệ sách của mỗi gia đình. Cám ơn bạn đã lắng nghe bài review này của mình nhé!

Bạn hãy ủng hộ mình bằng cách bấm nút like, đăng ký kênh và chia sẻ link cho người thân để giúp lan tỏa những cuốn sách hay nhé!

Chương 1:

Cuốn sách Tìm kiếm bên trong bạn có 3 bước đó là:

Bước 1: Rèn luyện khả năng chú ý.
Chú ý là nền tảng của mọi năng lực cảm xúc và nhận tức cao hơn. Ý tưởng ở đây là rèn luyện khả năng chú ý để tạo ra 1 tâm trí vừa an bình vừa sáng sủa. 1 tâm trí như vậy sẽ tạo nền tảng cho trí thông minh cảm xúc.

Bước 2: Tự phát triển kiến thức và tự làm chủ bản thân.
Sử dụng khả năng chú ý đã qua rèn luyện ở bước 1 để nâng cao khả năng nhận thức quá trình cảm giác và tư duy của bạn. Từ đó bạn có thể quan sát ngày càng rõ ràng dòng suy nghĩ và quá trình cảm giác của mình, với sự khách quan như từ góc nhìn của người thứ 3. Khi làm được như vậy, bạn sẽ tạo ra 1 loại kiến thức sâu sắc do bạn tự khám phá ra và loại kiến thức này cuối cùng sẽ dẫn đến sự tự làm chủ bản thân.

Bước 3: Tạo ra các thói quen hữu ích cho tâm.
Hãy tưởng tượng rằng bất cứ khi nào bạn gặp ai đó, ý nghĩ đầu tiên, theo bản năng, theo thói quen của bạn là: ” Tôi muốn người này được hạnh phúc”. Có những thói quen như vậy sẽ thay đổi mọi thứ ở nơi làm việc, vì ý tốt chân thành này sẽ được người khác cảm nhận 1 cách vô thức, và tạo ra loại tin tưởng dẫ đến những sự hợp tác có hiệu quả cao. Những thói quen như vậy có thể được rèn luyện để trở thành tự nhiên.

Tại sao trí thông minh cảm xúc hiện giờ lại được nhắc đến nhiều? Nó có tác dụng gì với mọi người? Những lợi ích của trí thông minh cảm xúc đặc biệt áp dụng trông bối cảnh công sở hiện giờ đó là: Hiệu suất làm việc nổi bật, năng lực lãnh đạo xuất sắc, khả năng tạo ra các điều kiện cho hạnh phúc.

  • Hiệu suất làm việc nổi bật.
    Các nghiên cứu khoa học đã cho thấy năng lực cảm xúc quan trọng gấp đôi chuyên môn và kiến thức thuần túy trong việc tạo ra sự hoàn hảo.
    Theo 1 nghiên cứu cho thấy 6 năng lực đứng đầu giúp phân biệt những người làm việc hiệu suất cao với những người làm việc bình thường trong khu vực kỹ thuật, đó là:
    – Khát khao đạt được thành tựu và tiêu chuẩn thành tựu cao.
    – Khả năng gây ảnh hưởng.
    – Tư duy khái niệm
    – Khả năng phân tích
    – Chủ động chấp nhận thử thách
    – Tự tin.
    Trong 6 năng lực này, chỉ có 2 năng lực: khả năng phân tích và tư duy khái niệm là những năng lực thuộc về trí thông minh thuần túy. 4 năng lực còn lại là năng lực thuộc về cảm xúc.
    => Vì thế, trí thông minh cảm xúc cao có thể giúp bất kỳ ai trở nên xuất sắc trong công việc, thậm chí cả kỹ sư.
  • Năng lực lãnh đạo xuất sắc.
    Trí thông minh cảm xúc biến mọi người trở thành những nhà lãnh đạo tốt hơn. Bằng trực giác, phần lớn chúng ta hiểu được điều này thông qua những kinh nghiệm hàng ngày thu được khi tương tác với những người chúng ta lãnh đạo và nhưng người lãnh đạo chúng ta.
  • Khả năng tạo ra các điều kiện cho hạnh phúc.
    Trí thông minh cảm xúc đem lại các kỹ năng giúp chúng ta tạo ra các điều kiện cho hạnh phúc lâu dài của mình.
    Hạnh phúc là 1 kỹ năng có thể rèn luyện được. Việc rèn luyện đó bắt đầu bằng sự nhận thức sâu sắc tâm trí, cảm xúc và kinh nghiệm của chúng ta về hiện tượng. Sau đó, nó sẽ tạo ra điều kiện cho những phương pháp giúp tối đa hóa hạnh phúc bên trong của chúng ta ở 1 mức độ sâu rồi cuối cùng tạo ra hạnh phúc lâu dài.
    Những thứ xây dựng trí thông minh cảm xúc cũng sẽ giúp chúng ta tạo ra các điều kiện cho hạnh phúc của mình. Do đó, hạnh phúc có thể là 1 phản ứng phụ chắc chắn sẽ xảy ra của việc trau dồi trí thông minh cảm xúc. Những phản ứng phụ khác bao gồm năng lực hồi phục, tinh thần lạc quan và lòng tốt.
    =>Tác giả có tóm tắt lại 3 lợi ích trên của trí thông minh cảm xúc bằng từ khóa: ” tối ưu hóa”. Mục tiêu của việc phát triển trí thông minh cảm xúc là giúp bạn tối ưu hóa bản thân và hoạt động ở mức độ cao hơn mức độ mà bạn vốn đã có khả năng đạt được. Thậm chí dù bạn đã xuất sắc trong công việc rồi, việc mài giũa và làm sắc các năng lực cảm xúc vẫn có thể mở rộng giới hạn của bạn.

Tác giả cũng khẳng định rằng trí thông minh cảm xúc có thể đào tạo được. Ý tưởng ở đây là những gì chúng ta nghĩ, làm và chú ý sẽ thay đổi cấu trúc và chức năng của não. Một hàm ý rất quan trọng trong tính dẻo của não là chúng ta có thể chủ đích thay đổi bộ não thông qua rèn luyện.

Vậy làm thế nào để chúng ta bắt đầu rèn luyện trí thông minh cảm xúc?

Việc đầu tiên chúng ta cần làm đó là Rèn luyện sự chú ý. 1 sự chú ý khỏe mạnh, ổn định và tỉnh táo có khả năng đem lại cho bạn sự bình tĩnh và sáng suốt chính là nền tảng để xây dựng lên trí thông minh cảm xúc.
Như Viktor Frankl đã nói:” Giữa kích thích và phản ứng, có 1 khoảng cách. Thứ nằm trong khoảng cách đó là sức mạnh và sự tự do của chúng ta trong việc chọn phản ứng của mình. Thứ nằm trong phản ứng của chúng ta là sự phát triển và hạnh phúc của chúng ta”. Khi chúng ta có 1 tâm trí bình tĩnh và sáng suốt, nó sẽ giúp gia tăng khoảng cách đó cho chúng ta.
Để rèn luyện phẩm chất chú ý này, có 1 phương pháp có tên là” thiền chánh niệm”. Tức là chú ý theo 1 cách thức nhất định: có mục đích, trong thời điểm hiện tại và không phán xét. Chánh niệm là 1 phẩn chất của tâm trí, mà tất cả chúng ta thỉnh thoảng đều trải nghiệm và thưởng thức, nhưng nó có thể mạnh lên rất nhiều bằng cách luyện tập, và 1 khi trở nên đủ mạnh, nó sẽ trực tiếp dẫn đến sự chú ý bình tĩnh và sáng suốt mà từ đó tạo nên nền tảng của trí thông minh cảm xúc.

Tiếp đến là rèn luyện ở cấp độ sinh lý. Tức sau khi chúng ta rèn luyện phát triển được sự chú ý khỏe mạnh, ổn định, tỉnh táo rồi chúng ta tập trung nó vào cơ thể. Nghe có vẻ trái ngược với trực giác nhưng có 2 lý do rất thuyêt phục để tập trung vào cơ thể đó là: sự sống động và độ phân giải.
– Chúng ta luôn nhận biết cảm xúc 1 cách sống động trong cơ thể hơn là trong tâm trí. Do đó, khi cố gắng nhận thức 1 cảm xúc, chúng ta luôn thu được nhiều hơn nếu tập trung sự chú ý vào cơ thể thay vì tâm trí.
– Quan trọng hơn, việc tập trung sự chú ý vào cơ thể giúp chúng ta nhận thức cảm xúc ở độ phân giải cao. Nhận thức cảm xúc ở độ phân giải cao nghĩa là nhận thức của bạn trở nên tinh tế cả về không gian và thời gian đến mức bạn có thể theo dõi 1 cảm xúc vào đúng khoảnh khắc nó xuất hiện, có thể nhận thức những thay đổi vi tế của nó khi nó tăng rồi lại giảm, và bạn có thể theo dõi khoảnh khắc nó biến mất.
Khả năng này rất quan trọng bởi bạn càng nhận thức cảm xúc của mình rõ bao nhiêu thì bạn kiểm soát chúng càng tốt bấy nhiêu. Khi chúng ta có thể nhận thức các cảm xuc sinh ra rồi thay đổi 1 cách chầm chậm, từng chút một, chúng ta sẽ trở nên cực kỳ thành thạo trong việc kiểm soát chúng.
Để phát triển khả năng này chúng ta cần áp dụng sự tỉnh thức với cơ thể.
Ví dụ khi ta tức giận. Bạn có thể rèn luyện bản thân quan sát tâm trí và bắt được sự tức giận ngay khi nó khởi lên trong tâm trí. Tuy nhiên, theo tác giả, thực hiện điều đó với cơ thể sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn. Cụ thể, những biểu hiện mà bạn biết là sự tức giận trên cơ thể đó là ngực thắt lại, hơi thở nông, trán thắt lại tức bạn nhận biết trong khoảnh khắc đó sự tức giận đang khởi lên. Những biểu hiện này sẽ giúp bạn có được khả năng phản ứng theo lựa chọn của bạn chẳng hạn bạn sẽ rời khỏi phòng trước khi bạn làm 1 điều gì đó có thể khiến bạn ân hận hoặc để nó bùng phát nếu đó là phản ứng hợp lý trong tình huống đó.Chúng ta cần hướng sự tỉnh thức của mình vào đây.
Ngoài ra, khi phát triển khả năng này giúp nâng cao trực giác của chúng ta. Rất nhiều trực giác bắt nguồn từ cơ thể, và học cách lắng nghe nó có thể đem lại rất nhiều lợi ích.

Tác giả hướng dẫn rất hay với những người mới tiếp xúc với thiền. Mới tập mỗi ngày chúng ta chỉ cần dành ra 2 phút có thể lúc trước khi đi ngủ để tập thiền. Ông đưa ra 2 cách: Cách dễ và Cách dễ hơn.
+ Cách dễ đó là trong 2 phút đó chũng ta chỉ cần chú ý nhẹ nhàng đến hơi thở. Chỉ vậy thôi. Bắt đầu bằng việc nhận ra rằng bạn đang thở, rồi sau đó chú ý đến quá trình thở. Mỗi lần sự chú ý của bạn đi lang thang, chỉ cần mang nó trở lại 1 cách nhẹ nhàng.
+ Cách dễ hơn. Đúng như cái tên của nó, còn dễ hơn. Tất cả những gì bạn phải làm là ngồi trong 2 phút mà không cần làm bất cứ cái gì cả. Tức là chuyển từ trạng thái” hành động” sang trạng thái ” tồn tại”. Chỉ tồn tại mà thôi.
Để dễ hơn nữa, bất cứ khi nào bạn muốn ban có thể đổi từ Cách dễ sang Cách dễ hơn và ngược lại bạn có thể đổi sang trạng thái chú ý đến hơi thở khi nào cũng được. Bài tập đơn giản này chính là thiền. Nếu tập đủ thường xuyên, nó khiến sự an tĩnh và sự rõ ràng vốn có trong tâm trí trở nên sâu sắc hơn. Nó mở ra khả năng trân trọng trọn vẹn từng khoảnh khắc của cuộc sống, từng khoảnh khắc đều quý giá.

Chương 2: Hãy thở để cuộc đời bạn phụ thuộc vào nó.

Thiền rèn luyện 2 năng lực quan trọng đó là : chú ý và tự chú ý.
– Chú ý theo William James định nghĩa là bị tâm trí chiếm đoạt, dưới dạng sống động và rõ ràng.
– Tự chú ý là khả năng biết rằng sự chú ý của bạn đang đi lang thang. Ví dụ bạn đang chú ý đến 1 vật thể và cuối cùng sự chú ý của bạn lang thang sang 1 vật thể khác. Sau 1 thời gian, có 1 thứ gì đó trong tâm trí bạn “tách” 1 cái, để báo cho bạn là:” này, tâm trí của bạn đã đi lang thang rồi đấy.”. Năng lực đó chính là tự chú ý. Đây cũng là bí quyết để tập trung.

Khi sự chú ý và tự chú ý của bạn trở nên mạnh mẽ, 1 điều thú vị sẽ xảy ra. Tâm trí bạn trở nên ngày càng tập trung và ổn định nhưng theo 1 cách cũng thư giãn nữa. Nếu luyện tập đủ, bạn thậm chí có thể đưa tâm trí đến trạng thái đó khi cần thiết và đắm chìm trong đó trong 1 khoảng thời gian dài. Khi tâm trí trở nên cực kỳ thư giãn và cảnh giác trong cùng 1 lúc, 3 phẩn chất tuyệt vời của tâm trí sẽ tự nhiên xuất hiện đó là: an tĩnh, rõ ràng và hạnh phúc.

Khi tâm trí an tĩnh và rõ ràng trong cùng 1 lúc, hạnh phúc sẽ tự nhiên xuất hiện. Tâm trí tự nhiên vui tươi. Tại sao lại như vậy? Câu trả lời được chuyên gia hàng đầu của Thế giới phương Tây về phương pháp tập trung thư giãn đưa ra rằng lý do rất đơn giản: “Hạnh phúc là trạng thái mặc định của tâm trí“. Vì vậy, nhiệm vụ của chúng ta chỉ đơn giản là trở lại trạng thái tự nhiên của tâm trí đã có thể có được hạnh phúc rồi. Nó cũng ngụ ý rằng hạnh phúc không phải là thứ bạn theo đuổi, mà là thứ bạn cho phép xảy ra. Chỉ tồn tại thôi đã là hạnh phúc.

Tác giả có hướng dẫn chúng ta cách thực hành Thiền chánh niệm bằng 1 quy trình như sau:
– Đầu tiên bắt đầu bằng 1 ý định, tạo ra 1 ý định, 1 lý do để muốn an trú trong chánh niệm.
– Tiếp theo là theo dõi hơi thở. Chỉ cần mang sự chú ý nhẹ nhàng đến quá trình thở. Chỉ vậy thôi ( tác giả có đưa ví dụ về người gác cổng. Bạn hãy coi tâm trí mình là người gác cổng đang cảnh giác quan sát hơi thở ra vào. Lúc này, sự chú ý của bạn có thể tập trung lại. Với đa số người nó chỉ diễn ra trong vài giây.
– Sau đó, chúng ta rơi vào xao lãng. Chúng ta lại bắt đầu suy nghĩ lại, lo lắng hoặc ảo tưởng. Sau 1 time, chúng ta nhận ra sự chú ý của mình đang đi lang thang. Thường lúc này mọi người hay chỉ trích bản thân. Thật may là có 1 cách để giải quyết vấn đề này đó là: thứ nhất, chỉ cần lấy lại tâm điểm chú ý bằng cách mang sự chú ý trở lại quá trình thở . Thứ 2, chúng ta cần ghi nhớ 1 nhận thức quan trọng: quá trình đi lang thang đó không phải là thất bại, mà là quá trình tiến bộ và phát triển các cơ bắp tinh thần mạnh mẽ. Cuối cùng, hãy cảnh giác thái độ của bạn với bản thân. Hãy chuyển hướng từ thái độ nói xấu bản thân sang sự tò mò và đối xử tốt với chính mình. Việc chuyển hướng này cũng là 1 dạng thiền.

Tác giả có hướng dẫn chúng ta tránh bị xao nhãng bởi âm thanh, suy nghĩ hoặc những cảm giác bằng cách đưa ra kế hoạch 4 bước đó là:
B1: Thừa nhận: Chỉ cần bạn thừa nhận rằng có điều gì đó đang xảy ra.
B2: Trải nghiệm mà không phán xét hay phản ứng. Chúng ta càng tạo ra khoảng cách giữa kích thích và phản ứng thì càng có khả năng kiểm soát đời sống cảm xúc của mình.
B3: Nếu cần phản ứng, tiếp tục duy trì sự chú tâm. Chẳng hạn, nếu cần gãi hay đứng dậy , hãy duy trì sự chú tâm vào 3 thứ: ý định, chuyển động và cảm giác. Mục tiêu của bài thiền là sự chú tâm. Miễn là bạn duy trì được sự chú tâm thì bạn làm gì cũng không sao.
B4: Buông thả nó. Khi chúng ta buông thả 1 thứ gì đó gây xao lãng đến việc thiền của chúng ta, chúng ta nhẹ nhàng mời nó dừng gây xao nhãng, nhưng hào phòng cho phép nó quyết định ở lại hay không? Hãy đối xử với nó bằng lòng tốt và sự hào phóng trong suốt thời gian nó hiện diện. Đây chính là bài tập buông thả.

Chương 3: Thiền không ngồi trên đệm.

Cách tốt nhất để tập thiền là tập trong đời sống hàng ngày. Chúng ta thường coi nhiều điều trung tính là tất nhiên như: không bị đau ốm, ăn 3 bữa 1 ngày, có thể bước đi từ điểm A đến điểm B. Khi thiền, những điều này trở thành nguồn cơn tạo ra hạnh phúc vì chúng ta không còn coi chúng là tất nhiên nữa. Chúng ta trải nghiệm chúng 1 cách trọn vẹn. Ví dụ như 1 bữa ăn ngon nếu được ăn trong trạng thái thiền sẽ trở nên ngon hơn, bởi vì bạn đã đặt toàn bộ sự chú ý vào việc tận hưởng bữa ăn.
Khi sống trong thiền, những trải nghiệm trung tính đó có xu hướng trở nên dễ chịu.

Thiền không chỉ giới hạn ở tư thế khi ta ngồi và quan sát hơi thở. Tác giả nhấn mạnh rằng chúng ta hãy mang sự chú ý trọn vẹn từng khoảnh khắc vào mọi công việc với 1 tâm trí không phán xét, và mỗi khi sự chú ý đi lang thang, chỉ cần nhẹ nhàng mang nó trở lại. Nó vẫn chẳng khác gì ngồi thiền, ngoại trừ việc đối tượng thiền là công việc ngay trước mắt, thay vì hơi thở.
Tác giả có liệt kê các loại thiền như: thiền đi, thiền hướng tới người khác, thiền nghe, thiền nói chuyện,….

Vậy làm thế nào để chúng ta có thể duy trì việc thực hành thiền?

Ban đầu bạn cần 1 chút khuôn khổ, nhưng sau 1 vài tháng, bạn có thể chú ý đến những thay đổi đáng kể trong chất lượng cuộc sống. Bạn trở nên hạnh phúc hơn, an tĩnh hơn, mềm dẻo về mặt cảm xúc hơn, nhiều năng lượng hơn,…. và từ đó duy trì thiền đều đặn hơn.
Tác giả có đưa ra 3 gợi ý để giúp chúng ta thực hành thiền kiên trì, đều đặn hơn. Đó là:
Thứ nhất: Có bạn tập cùng. Hãy tìm 1 bạn thiền và cam kết mỗi tuần thiền nói chuyện 15 phút về ít nhất 2 chủ đều sau:
– Tôi đang thực hiện như thế nào lời cam kết thực hành của tôi?
– Điều gì đã xuất hiện trong cuộc đời tôi liên quan đến việc thực hành của tôi?
Thứ 2: LÀm ít hơn khả năng: Đừng ngồi lâu đến mức khiến nó trở thành gánh nặng. Ngồi thường xuyên, trong những khoảng thời gian ngắn, và việc thiền của bạn có thể nhanh chóng trở thành 1 dạng hưởng thụ.
Thứ 3: Hít một hơi mỗi ngày: bạn cần cam kết duy trì hít 1 hơi tỉnh thức mỗi ngày. Cam kết này giúp bạn bảo tồn cho việc thực hành. Sau khi duy trì được, bạn sẽ cảm thấy sẵn sàng làm nhiều hơn.

Tác giả so sánh thiền giống như đứa bé tập đi.

Chương 4: Sự tự tin hữu cơ.

Những năng lực tự nhận thức.
Theo Daniel Goleman, năng lực cảm xúc là 1 khả năng có thể học được dựa trên trí thông minh cảm xúc. Trong lĩnh vực tự nhận thức có 3 năng lực cảm xúc đó là:
– Nhận thức cảm xúc: Nhận ra cảm xúc của mình và các tác động của chúng.
– Tự đánh giá chính xác. Biết các điểm mạnh và giới hạn của mình.
– Tự tin: Cảm giác mạnh mẽ về giá trị và năng lực của bản thân. Hiểu bản thân sâu sắc và trung thực với bản thân không giấu giếm, 2 điều kiện cần thiết cho sự tự tin bền vững, tức là không có gì phải che giấu với chính mình. Nó đến từ việc tự đánh giá chính xác. Nếu có thể tự đánh giá chính xác, chúng ta có thể nhìn rõ ràng và khách quan những điểm mạnh lớn nhất và những điểm yếu lớn nhất của chính mình. Chúng ta sẽ biết về những ưu tiên sâu sắc nhất trong đời, điều gì là quan trọng, điều gì không quan trọng mà chúng ta có thể buông bỏ. Cuối cùng, chúng ta đạt đến 1 điểm khiến chúng ta thoải mái với bản thân. Khiến chúng ta hiểu và cảm thấy không có điều gì về bản thân mà ta không thể giải quyết được. Đây là nền tảng của sự tự tin.

Tác giả có đưa ra 2 phương pháp giúp phát triển năng lực tự nhận thức, đó là:
Phương pháp 1: Quét cơ thể. Cảm xúc là 1 trải nghiệm sinh lý. Do đó cách tốt nhất để phát triển năng lực nhận thức ở độ phân giảo cao là áp dụng thiền với cơ thể. Cách đơn giản nhất để áp dụng đó là mang thiền vào cơ thể mọi lúc. Bất cứ khi nào bạn hướng sự chú ý trọn vẹn vào cơ thể mình, bạn tạo ra điều kiện cho các thay đổi về thần kinh, từ đó cho phép bạn trở nên ngày càng nhạy cảm về cơ thể mình và kết quả là nhạy cảm cả về quá trình cảm xúc. Bạn hãy thực tập bằng cách đưa sự chú ý đến từng bộ phận trên cơ thể từ đầu đến chân, tiếp theo quét cảm xúc tích cực sau đó trở lại hiện tại.
Phương pháp 2: Ghi chép. Đây là 1 bài tập quan trọng giúp bạn khám phá những điều nằm trong tâm trí vân chưa còn rõ ràng và thông suốt. Bạn không cần phải viết cho ai cả mà là viết cho chính mình. Bạn có thể coi việc ghi chép là 1 dạng thiền suy nghĩ và cảm xúc khi chúng khởi lên. Mỗi ngày hãy dành ra 3 phút để ghi chép lại những suy nghĩ, cảm xúc, bất cứ điều gì xuất hiện trong tâm trí bạn thời điểm đó vào những mảnh giấy hoặc bạn có thể viết vào giấy theo những lời gợi ý sau: Điều tôi đang cảm thấy ngay lúc này là…. tôi đang nhận thấy rằng,…. tôi được truyền cảm hứng bởi,….hôm nay tôi khao khát,…. điều làm tổn thương tôi là….. tôi đang mắc phải 1 sai lầm hạnh phúc….. và đặt chúng vào trong cái lọ to. Sau đó mỗi ngày, bạn chọn ngẫu nhiên 1 hoặc 2 mẩu giấy có thể đọc lại những điều bạn viết cho bản thân mình.

Chương 5: Điều khiển cảm xúc

Tác giả cho rằng mấu chốt của việc điều khiển được cảm xúc của mình đó là ta cần tập buông thả. Đây là 1 kỹ năng vô cùng quan trọng, là 1 trong những nền tảng trọng yếu của việc tập thiền. Và mấu chốt, chúng ta cần buông thả 2 điều đó là: tham lam và oán ghét.
– Tham lam là tâm trí bám chặt vào 1 cái gì đó và không chịu buông thả nó đi.
– Oán ghét là tâm trí tránh xa 1 cái gì đó và không chịu để nó đến.
2 điều này chiếm 1 phần rất lớn trong những nỗi khổ mà chúng ta phải trải qua, nó chiếm đến 90% thậm chí 100%.

Khi bạn tập thiền đủ vững, bạn có thể nhận ra được sự khác biệt giữa tham lam, oán ghét với cảm giác và nhận thức. 1 khi tâm trí đã đạt đến mức độ nhận thức ở độ phân giải cao, bạn sẽ có được 2 cơ hội rất lớn:
– Cơ hội thứ nhất: là khả năng trải nghiệm đau mà không khổ. Khi bạn bị đau 1 bộ phận nào đó trong cơ thể, cơn đau không phải là nguyên nhân , chính sự oán ghét mới là nguyên nhân, đau chỉ là 1 cảm giác tạo ra sự oán ghét đó thôi. Do đó, nếu tâm trí bạn nhận ra điều này và sau đó có khả năng buông thả sự oán ghét, thì khi trải nghiệm đau, khổ sẽ giảm đi rất nhiều- thậm chí không còn khổ nữa.
Tác giả có lấy ví dụ về 1 học viên hơn 70 tuổi đến tham gia khóa thiền của ông. Ông đến với chiếc xe lăn, chân ông đau đến nỗi ông chỉ muốn cắt bỏ nó đi. Buổi học thứ 2 ông đến bằng nạng thay vì xe lăn. Buổi sau đó ông chỉ dùng gậy ba-toong. Cuối khóa, ông nói rằng cơn đau gần như vẫn thế nhưng thái độ của ông đối với cơn đau đã thay đổi rất nhiều.

Mình xin được trích câu nói của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, 1 trong những nhân vật lịch sử đạt được hiểu biết này. Ông nói:” Nếu bạn cảm thấy đau đớn vì bất cứ thứ gì bên ngoài, thì cơn đau không phải do thứ đó tạo ra, mà do cách bạn đánh giá nó; và do đó, bạn có sức mạnh để hủy bỏ nó vào bất kỳ lúc nào.”
– Cơ hội thứ 2: là khả năng trải nghiệm sự sung sướng mà không bị thất vọng khi nó kết thúc. Bản thân trải nghiệm không gây ra khổ, mà là việc chúng ta cứ bám chặt lấy chúng, mong mỏi 1 cách tuyệt vọng rằng chúng sẽ không biến mất, mới là nguyên nhân gây ra khổ. Do đó, Nếu tâm trí nhận ra điều này và sau đó có khả năng buông thả tham lam, thì trải nghiệm sung sươngs sẽ tạo ra ít khổ, hoặc không tạo ra khổ chút nào.
Bằng cách buông thả tham lam và oán ghét, chúng ta vừa có thể áp dụng trọn vẹn tâm trí buông thả vừa có thể tận hưởng trọn vẹn cuộc sống trong sự muôn màu muôn vẻ của nó.

Đường ray phía Bắc Siberia
Tác giả đưa ra 1 bài tập khi chúng ta đương đầu với các cảm xúc tiêu cực hay đau đớn. Gồm 5 bước:
– Dừng lại. Bất cứ khi nào bạn thấy mình bị kích thích, hãy dừng lại. Đừng phản ứng gì cả, chỉ trong 1 khoảnh khắc thôi.
– Hít thở. Tập trung tâm trí vào hơi thở, giúp củng cố khoảng tạm dừng ở bước trên.
– Chú ý. Mang sự chú ý đến hơi thở, chú ý những thay đổi trong mức độ căng thẳng và nhiệt độ. Áp dụng thiền vào từng khoảnh khắc mà không phán xét. Nghĩ rằng đây là sự trải nghiệm cảm xúc.
– Kiểm điểm. Trả lời những câu hỏi:cảm xúc đó đến từ đâu? Có câu chuyện đằng sau không? Hãy trả lời với sự khách quan nhất, có thể đặt mình trong hoàn cảnh của người đối diện với mình.
– Phản ứng. Đưa vào tâm trí những cách bạn có thể phản ứng với tính huống này để được kết quả tích cực nhất.

Chương 6: Tạo ra lợi nhuận, vượt qua đại dương và thay đổi thế giới.

Chương này tác giả đã lấy vị dụ về nhân vật Tony Hsieh- CEO của Zappos để phân tích cho việc anh đã sử dụng hạnh phúc 1 cách khôn ngoan, thành thạo và can đảm trong môi trường công sở. Anh tạo ra 1 nền văn hóa doanh nghiệp có lợi cho hạnh phúc của nhân viên: khi nhân viên hạnh phúc, họ sẽ cung cấp cho khách hàng dịch vụ khách hàng tốt nhất trong ngành, khi khách hàng hạnh phúc thì họ sẽ tiêu nhiều tiền hơn ở Zappos.
Anh đưa ra quy trình hạnh phúc trong bối cảnh công sở qua 3 loại hạnh phúc đó là: khoải lạc, đam mê và mục đích cao cả. Cụ thể:
Khoái lạc: tức là luôn theo đuổi những thứ cao hơn. Đây là loại hạnh phúc ngôi sao vì rất khó để duy trì nó nếu bạn không có lỗi sống của 1 ngôi sao.
Đam mê: còn được gọi là ” thông suốt”, ở đó thành tích cao nhất hội tụ với sự cam kết cao nhất và thời gian trôi đi.
Mục đích cao cả: tức là trở thành 1 phần của 1 thứ gì đó lớn hơn bản thân mình, 1 thứ có ý nghĩa đối với bạn.
Trong đó, hạnh phúc đến từ sự khoái lạc có độ thiếu bền vững cao.
Hạnh phúc đến từ đam mê, sự thông suốt bền vững hơn nhiều và khả năng bạn quen với nó cũng thấp hơn.
Còn hạnh phúc đến có được từ mục đích cao cả có độ bền vững cao. Dạng hạnh phúc này có tính phục hồi cao và có thể tồn tại trong 1 khoảng thời gian rất dài, đặc biệt khi mục đích cao cả đó xuất phát từ sự vị tha.
=> Thực tế là chung ta hay theo đuổi khoái lạc và tin rằng nó là nguồn hạnh phúc bền vững. Những người này dành phần lớn thời gian và năng lượng để theo đuổi nó, đôi khi tận hưởng sự thông suốt và thi thoảng mới nghĩ về mục đích cao cả.
Tony gợi ý rằng chúng ta nên làm ngược lại. Chúng ta nên dành phần lớn thời gian và năng lượng cho mục đích cao cả, đôi khi tận hưởng sự thông suốt và thi thoảng nếm 1 chút khoái lạc ngôi sao. Đây là con đường hợp lý nhất để đạt đến hạnh phúc vững bền, ít nhất là trong công việc.

Hiểu biết này cũng gợi ý rằng cách tốt nhất để tìm ra động lực trong công việc là tìm ra mục đích cao cả của bản thân. Nếu chúng ta biết mình coi trọng nhất cái gì và cái gì có ý nghĩa nhất, chúng ta sẽ biết mình có thể làm gì để phục vụ cho mục đích cao cả đó. Khi điều đó xảy ra, công việc sẽ trở thành nguồn hạnh phúc vững bền cho chúng ta. Khi đó, chúng ta sẽ trở nên tài giỏi trong công việc của mình vì chúng ta vui vẻ làm việc và điều này cho phép chúng ta được tận hưởng hạnh phúc của sự thông suốt với tần suất ngày càng tăng. Cuối cùng, khi chúng ta trở nên tài giỏi trong công việc, chúng ta sẽ được mọi người công nhận và thi thoảng chúng ta có thể được nhận phần thưởng lớn từ công ty. Đây chính là trải nghiệm khoái lạc ngôi sao mà thi thoảng ta mới được nếm trải.
=> Một khi chúng ta làm việc để tiến đến mục đích cao cả của mình, bản thân công việc đó đã là 1 phần thưởng.

Nói đến tạo động lực, tác giả giới thiệu cho độc giả 3 bài tập như sau: tương thích, hình dung và phục hồi. Cụ thể:
1. Tương thích: tức là khiến công việc tương thích với các giá trị và mục đích cao cả. Tác giả cho rằng tức là là tìm cách để không phải làm việc nữa trong suốt phần đời còn lại nhưng vẫn được trả lương.Bí quyết là tạo ra 1 tình huống trong đó công việc là thứ bạn làm vì hạnh phúc, bạn đang làm điều đó để giải trí và việc có ai đó trả lương cho bạn vì công việc này chỉ là 1 sự tình cờ.
Ví dụ cho TH này là Warren Bufett, ông vẫn làm việc, vui chơi trong công việc ở tuổi 80. Norman Fischer đã nói rằng ông chưa từng làm việc 1 ngày nào trong cuộc đời, dù cho ông là 1 trong những giảng viên thiền được săn đón nhất và bận rộn hơn hầu hết các nhân viên ở Thung lũng silicon.

Công việc có bản chất như vậy thường sở hữu ít nhất 1 trong 2 phẩm chất sau:
– Công việc đó có ý nghĩa sâu sắc đối với bạn.
– Nó tạo ra 1 trạng thái thông suốt trong bạn. Thông suốt vô cùng quan trọng, là trạng thái làm việc ở mức độ cao nhất được Mihaly Csikszentmihalyi khám phá ra. Ông miêu tả nó là ” hoàn toàn đắm chìm vào 1 hoạt động vì lợi ích của chính nó. Cái tôi biến mất. Thời gian trôi đi. Mọi hành động, chuyển động và mọi ý nghĩ đều tuân theo cái trước đó, giống như chơi nhạc jazz. Toàn bộ con người bạn đều tham gia vào, và bạn sử dụng các kỹ năng của mình đến mức độ cao nhất.

Tác giả Daniel Pink đã lập luận rằng những phần thưởng bên ngoài như tiền bạc không phải là động lực tốt nhất để tạo ra hiệu suất làm việc cao. Thay vào đó, động lực tốt nhất là ” động lực nội tại” mà chúng ta tìm thấy ở bên trong. Nó chứa đựng 3 yếu tố sau:
+ Tự trị: thôi thúc định hướng cuộc sống của chúng ta.
+ Tự chủ: khao khát trở nên ngày càng giỏi hơn trong những việc quan trọng.
+ Mục đích: mong muốn làm việc để phục vụ cho điều gì đó lớn lao hơn bản thân mình.


Tác giả có nhấn mạnh 1 ý rất hay và quan trọng sau: Sự tương thích được xây dựng dựa trên sự tự nhận thức. Khi bạn am hiểu sâu sắc bản thân, bạn bắt đầu biết những giá trị cốt lõi. mục đích và ưu tiên của mình. Bạn biết điều gì là thực sự quan trọng đối với bạn và điều gì khiến bạn thấy có ý nghĩa. Khi mọi sự đã rõ ràng, bạn biết điều gì khiến bạn hạnh phúc trong công việc và làm thế nào để đóng góp tốt nhất cho thế giới. Khi đó, bạn sẽ biết mình muốn tạo ra tình huống công việc như thế nào cho bản thân. Khi cơ hội tốt tự xuất hiện, bạn sẽ có thể làm việc theo những cách đem lại cho bạn sự tự trị, tự chủ và mục đích. Từ đó, công việc của bạn sẽ trở thành nguồn hạnh phúc của bạn. Mà nền tảng của nó lại chính là “thiền”.

2. Hình dung: bạn hãy hình dung về điều mình mong muốn trong tương lai như thể nó đã xảy ra rồi. Đọc đến đây mình thấy rất giống 3 bước của Luật Hấp Dẫn. Tác giả có hướng dẫn chúng ta hình dung khám phá và hợp nhất tương lai lý tưởng vào trong tâm trí bằng cách viết về nó như thể nó đã thành hiện thực rồi. Bạn viết càng cụ thể càng tốt. Bằng cách trả lời những câu hỏi sau:
– Bạn là ai và bạn đang làm gì?
– Bạn cảm thấy như thế nào?
– Mọi người nói gì về bạn?
Tác giả nhấn mạnh rằng bạn hãy nói về tương lai, lý tưởng của bạn thật nhiều. Đặc biệt nếu tương lai , lý tưởng của bạn mang đầy lòng vị tha thì mọi người sẽ đổ xô đến giúp bạn. Khi bạn chân thành muốn giúp đỡ người khác, bạn truyền cảm hứng cho mọi người bằng sự vị tha của mình và khi đó, họ sẽ muốn giúp bạn.
Do đó, nếu bạn có những khát khao vị tha, đặc biệt nếu bạn đang thực hiện chúng, bạn hãy chia sẻ chúng với người khác, như vậy bạn có thể truyền thêm sự tốt đẹp vào thế giới này.

3. Phục hồi: là khả năng vượt qa trở ngại trên đường đi.
Tương thích và hình dung giúp bạn tìm ra nơi bạn muốn đến, còn phục hồi giúp bạn đến đó.
Phục hồi có thể được rèn luyện qua 3 mức độ sau:
– An tĩnh bên trong: Khi bạn có thể liên tục đạt được sự an tĩnh bên trong, nó trở thành nền tảng cho mọi sự lạc quan và phục hồi. Nếu bạn chạm được đến sự an tĩnh sâu bên trong tâm trí thì dù cuộc sống hàng ngày có thăng trầm đến đâu, bạn lúc nào cũng có thể phục hồi lại. Mỗi khi nó đánh bại bạn, bạn luôn có thể nghỉ ngơi, hồi phục trong sự an tĩnh bên trong đó và đứng dậy thật nhanh, tùy thuộc vào sự rèn luyện sâu của mình như thế nào? Chỉ cần tập thiền nhiều, tự nhiên bạn sẽ đạt được trạng thái này.
– Phục hồi cảm xúc: Thành công và thất bại là những trải nghiệm cảm xúc. Khi rèn luyện mức độ này, chúng ta mở rộng không gian cho chúng.
-Phục hồi nhận thức: hiểu cách mình giải thích các thất bại với chính bản thân và tạo ra các thói quen suy nghĩ hữu dụng sẽ giúp chúng ta phát triển sự lạc quan.

Thất bại là 1 trải nghiệm bình thường. Thứ phân biệt người thành công với những người khác là thái độ đối với thất bại và cụ thể là cách họ giải thích thất bại với chính bản thân mình.


Học hỏi sự lạc quan, trút bỏ sự bi quan.
– Bước đầu tiên để học sự lạc quan là nhận thức được mình có thành kiến mạnh về những điều tiêu cực. Thường chúng ta hay tập trung quá nhiều vào những thất bại mà ít tập trung vào thành công. Chỉ cẩn hiểu điều này thôi là đã có thể thay đổi cách nhìn của bạn về bản thân rồi.
– Bước thứ 2 là thiền. Để học được sự lạc quan, chúng ta cần tạo ra sự khách quan đối với các trải nghiệm của mình. Thiền là cách tốt nhất để tạo nên sự khách quan đó.
Bạn hãy thực hành như sau. Bất cứ khi nào bạn trải nghiệm thành công hay thất bại thì trước hết hãy mang thiền đến cơ thể bạn. Sau đó, mang thiền đến các trải nghiệm cảm xúc và mang đến các suy nghĩ của bạn.
– Bước cuối cùng là biến chuyển.
Khi trải nghiệm thành công, hãy chú ý đến nó 1 cách có ý thức và chấp nhận công lao của mình. Điều này sẽ tạo thói quen tinh thần chú ý đúng mức đến các thành công.
Khi trải nghiệm thất bại, hãy tập trung vào bằng chứng thực tế cho thấy rằng thất bại này chỉ là tạm thời. Nếu có suy nghĩ ko lành mạnh, bạn hãy nhớ tới những thành công trong quá khứ. Điều này giúp làm tăng sự khách quan bằng cách cân bằng thiên kiến mạnh mẽ của bạn đối với những điều tiêu cực.
NẾu làm thường xuyên, bạn sẽ tạo ra những thói quen tinh thần mới và khi trải nghiện cự thất bại, tâm trí bạn sẽ nhanh chóng tìm được lý do thực tế để hy vọng và bạn sẽ phục hồi nhanh hơn từ thất bại. Từ đó, sự lạc quan hình thành.

Chương 7: Sự đồng cảm và điệu tanggo của bộ não.

Đồng cảm không nhất thiết nghĩa là đồng ý. Có thể vừa thấu hiểu người khác, cr ở mức độ lý trí lẫn mức độ bản năng, 1 cách đầy yêu thương, vừa phản đối họ 1 cách tôn trọng. Dấu hiệu của 1 tâm trí đã phát triển là có thể hiểu và chấp nhận cảm giác của người khác mà không đồng ý với nó. Hiểu biết này cho thấy chúng ta có thể đưa ra những quyết định cứng rắn mà vẫn thể hiện được sự đồng cảm. Trong nhiều tình huống, cách tốt nhất để đưa ra những quyết định cứng rắn là đưa chúng ra bằng tình yêu thương và đồng cảm, từ đó sẽ tạo ra sự thấu hiểu và lòng tin. 1 khi lòng tin đã được thiết lập, nó sẽ trở thành nền tảng để bạn xây dựng nên 1 mối quan hệ công việc lâu dài và vững mạnh. Vậy là bạn sẽ dành ưu thế trong cả ngắn hạn và dài hạn.

Cách làm tăng sự đồng cảm.

Càng thể hiện tình yêu thương với người khác, bạn càng dễ đồng cảm với họ.

Càng thấy người khác giống chúng ta thì chúng ta càng dễ đồng cảm với họ.

Để trở nên đồng cảm hơn, chúng ta cần tạo ra 1 tâm trí có bản năng phản ứng theo cách đầy yêu thương với tất cả mọi người và 1 nhận thức tự động coi những người khác “cũng như mình mà thôi”. Nói cách khác, chúng ta cần tạo ra những thói quen tư duy.

  • Tạo ra các thói quen tư duy tích cực: hãy thường xuyên đưa 1 suy nghĩ vào tâm trí bạn và nó sẽ trở thành 1 thói quen tư duy. Thực hành bài tập Cũng như mình mà thôi và Thiền yêu thương. Hãy thử thực hành bài tập trong 10 ngày, mỗi ngày bạn làm 1 việc tốt thì bạn sẽ thấy hạnh phúc hơn rất nhiều. Nói cách khác, yêu thương là 1 nguồn hạnh phúc bền vững – đây là 1 hiểu biết đơn giản song rất quan trọng, có khả năng thay đổi cuộc đời chúng ta.
  • Điều tuyệt vời của bài tập trên là nó có thể được sử dụng để hàn gắn các mối quan hệ trong bất kỳ tình huống nào. Đặc biệt hữu dụng trong việc giải quyết xung đột.
  • Gợi ra điểm tốt đẹp nhất trong mỗi người.
  • Tạo dựng lòng tin rất có lợi cho công việc. Đồng cảm giúp chúng ta tạo dựng lòng tin. Lòng tin là nền tảng cho 1 mối quan hệ .

    Nâng cao khả năng lắng nghe đồng cảm cần lưu ý 4 điều sau:
  • Thiền: với thiền, chúng ta trở nên nhạy cảm hơn và dễ tiếp thu hơn.
  • Yêu thương: khi tràn đầy tình yêu thương, chúng ta sẽ lắng nghe các cảm xúc tốt hơn.
  • Tò mò: Hãy tập tò mò về việc đối phương đang cảm thấy như thế nào khi bạn lắng nghe câu chuyện của họ.
  • Tập luyện: Hãy lắng nghe đồng cảm thật nhiều. Càng làm nhiều, bạn càng giỏi hơn, đặc biệt là khi bạn kết hợp vơi thiền, yêu thương và tò mò.

Chương 8: Vừa có hiệu quả, vừa được yêu quý.

Tác giả có đưa ra 3 kỹ năng xã hội mà mỗi chúng ta nên hoc, trau dồi:
+ Dẫn dắt bằng lòng từ bi.
+ Ảnh hưởng bằng lòng tốt.
+ Giao tiếp bằng hiểu biết.

Dẫn dắt bằng lòng từ bi.
Lòng từ bi là trạng thái hạnh phúc nhất.
Trạng thái hạnh phúc thứ hai là là ” khai mở nhận thức”, 1 trạng thái mà ở đó tâm trí hoàn toàn cởi mở, an tĩnh và thông suốt. Dù có rèn luyện theo cách trên đến mức hoàn hảo, bạn cũng chỉ có thể đạt đến trạng thái hạnh phúc thứ hai mà thôi.
Trạng thái hạnh phúc thứ nhất chỉ có thể đạt được bằng lòng từ bi và điều này đòi hỏi sự tương tác trong cuộc sống thực với những con người thực, Do đó, những bài thực tập thiền phải là sự kết hợp giữa việc lánh xa thế giới ( để làm sâu sắc thêm sự an tĩnh) và tương tác với thế giới( để làm sâu sắc thêm lòng từ bi).

Rèn luyện lòng từ bi bằng cách nhân sự tốt đẹp lên nhiều lần.
Tác giả có đưa ra 1 công cụ giúp rèn luyện lòng từ bi bằng cách hình dung thông qua Thiền. Bài thực hành rất đơn giản. “Khi chúng ta hít vào, hãy hình dung rằng chúng ta đang hít vào sự tốt đẹp của bản thân, hình dung mình đang nhân sự tốt đẹp đó lên gấp 10 lần trong trái tim mình. Và khi chúng ta thở ra, hãy hình dung mình trao toàn bộ sự tốt đẹp đó cho thế giới.”

Bài tập này phát triển 3 thói quen tư duy hữu dụng sau:
– Nhìn ra sự tốt đẹp ở bản thân mình và ở người khác. Khi đó bạn sẽ có bản năng muốn hiểu và cảm thông với họ ngay cả trong những tình huống khó khăn. Nếu thường xuyên làm như vậy, bạn sẽ trở thành 1 người được mọi người tin tưởng vì bạn thấu hiểu và quan tâm.
– Trao sự tốt đẹp cho tất cả mọi người. Khi có thói quen và bản năng muốn lan tỏa sự tốt đẹp ra khắp thế giới thì sớm thôi, bạn sẽ trở thành người lúc nào cũng muốn giúp đỡ người khác. Và bạn sẽ trở thành người được mọi người kính trọng, thậm chí còn khâm phục, vì họ cảm nhận được trái tim của bạn.
– Tự tin vào sức mạnh chuyển hóa của bản thân giúp củng cố sự tự tin. Bạn sẽ trở thành người truyền cảm hứng

Rèn luyện lòng từ bi dành cho người dũng cảm.
Đây là phương pháp khó theo mình hiểu giống công việc của những người làm trị liệu tâm lý. Phương pháp này có tên gọi là Tonglen ( có nghĩa là cho và nhận). Nó khác phương pháp thiền nhân lên ở chỗ khi hít vào bạn tiếp nhận sự khổ đau của mình và cả người khác rồi chuyển hóa nó bên trong bạn. Khi thở ra, bạn phát ra tình yêu thương và lòng từ bi.

Mô hình SCARF bao gồm 5 lĩnh vực quan trọng chi phôi hành vi xã hội. Đó là: Địa vị, sự chắc chắn, sự tự trị, sự liên quan, sự công bằng.

Địa vị. tức là tầm quan trọng, chỗ đứng, thứ bậc giữa người này với người khác.

Sự chắc chắn. sự không chắc chắn tạo ra những sai lầm trong bộ não và nó chiếm hết toàn bộ tâm trí và nó khiến bạn khó có thể làm việc khác.

Sự tự trị. là nhận thức về khả năng kiểm soát môi trường. Bản thân áp lực không gây ảnh hưởng đến bạn mà là cảm giac bất lực khi đối mặt với áp lực đó.

Sự liên quan. đề cao sự quan trọng của chất lượng các mối quan hệ xã hội.

Sự công bằng.

Mở rộng ảnh hưởng của bạn.
Với kế hoạch 4 bước: Mặc định bạn vốn đã có ảnh hưởn=> Củng cố sự tự tin bằng cách hiểu rõ điểm mạnh, điểm yếu bản thân => Hiểu mọi người và giúp họ thành công => Phục vụ cho lợi ích lớn hơn. Hãy vì lợi ích cả nhóm, hay lợi ích của cả cty hay thế giới.

=> Sự tốt đẹp.

Trí tuệ cảm xúc có 2 đặc điểm quan trọng:
+ Giúp bạn hạnh phúc bên trong, tăng sự đồng cảm và lòng từ bi đối với mọi người.

+ Thực hiện các bài tập thiền, bắt đầu từ thiền chánh niệm.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *